18. Sớ Cúng Bạt Độ Tổ Tiên
(Tổ Đức Lưu Phương)
Nguyên văn:
伏以
祖德流芳、感荷髪膚之報、
佛恩遺敎、資憑薦拔之靈、一念酬恩、六通玄鑒。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、維日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒、求薦
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。
竊念、瓜瓞綿綿、螽斯蟄蟄、仰乾始坤、生之大德、正天高海活之澁恩、承家麟趾呈祥、何先吉肇培之德澤、變葉鳳毛濟美、構前人庇廕之洪庥、恩深未報於毫厘、追薦願求於超度。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、
三寶證明、萬靈印可、接香靈高登極樂之邦、扶陽眷共享久長之福。仰賴
佛恩證明之不可思議也。謹疏。
謹請司命竈君、土公尊神、以事上奏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Tổ đức lưu phương,1 cảm hà phát phu2 chi báo; Phật ân di giáo, tư bằng tiến bạt chi linh; nhất niệm thù ân, Lục Thông3 huyền giám.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật, tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng, duy nhật bái can, Đại Giác Năng Nhân, phủ thùy chiếu giám, cầu tiến:
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm:4 Qua điệt miên miên,5 chung tư chập chập;6 ngưỡng càn thỉ khôn, sanh chi đại đức; chánh thiên cao hải hoạt chi sáp ân, thừa gia lân chỉ trình tường,7 hà tiên cát triệu bồi chi đức trạch;8 biến diệp phụng mao tế mỹ,9 cấu tiền nhân tỉ ấm10 chi hồng hưu;11 ân thâm vị báo ư hào li,12 truy tiến nguyện cầu ư siêu độ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu:
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện:13 Tam Bảo chứng minh, vạn linh ấn khả; tiếp hương linh cao đăng Cực Lạc chi bang, phò dương quyến cọng hưởng cửu trường chi phước. Ngưỡng lại Phật ân chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Cẩn thỉnh Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, dĩ sự thượng tấu.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
Tổ đức còn thơm, xót nặng tấm thân đền đáp; ơn Phật di giáo, nay nương tiến cúng hương linh; một niệm trả ơn, Phật thương chứng giám.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Nép nghĩ: Con cháu dài lâu, muôn đời đông đúc; ngưỡng trông trời đất, sanh thành đức lớn; tựa trời cao biển rộng ấy ơn dày, cửa nhà con cháu đông đầy; sao tu bổ tốt bồi tô ân huệ, đổi thay nam tử nhân hậu, tiếp ân sủng bao người trước chở che; ơn sâu chưa báo chút mảy may, tiến cúng nguyện cầu được siêu độ. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Tam Bảo chứng minh, mọi loài hứa khả; tiếp hương linh lên miền Cực Lạc an vui, giúp gia quyến cùng hưởng dài lâu phước thọ. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Cúi xin Ty Mạng Táo Quân, Thổ Công Tôn Thần, đem việc nầy tâu lên.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Tổ đức lưu phương (祖德流芳): đức lớn của tổ tiên vẫn thơm mãi từ đời nầy sang đời khác.
- Phát phu (髪膚): tóc và da, tức chỉ toàn thân con người. Trong chương Khai Tông Minh Nghĩa (開宗明義) thứ nhất của Hiếu Kinh (孝經) có đoạn rằng: “Thân thể phát phu, thọ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã (身體髪膚、受之父母、不敢毀傷、孝之始也, toàn bộ thân thể, thọ của cha mẹ, không dám thương tổn, đó là việc làm đầu tiên của hiếu).” Câu “cảm hà phát phu chi báo (感荷髪膚之報)” có nghĩa là cảm thấy nặng trĩu không biết làm sao báo đáp ơn sâu của cha mẹ đã ban cho tấm thân nầy.
- Lục Thông (六通): hay Lục Thần Thông (s: ṣaḍ-abhijñāḥ, 六神通), là 6 loại năng lực siêu nhiên diệu dụng, vô ngại, tự tại do chư Phật, Bồ Tát chứng đạt được nhờ sức mạnh của định và tuệ, gồm: Thần Túc Thông (神足通, tên gọi chung của các năng lực siêu nhiên như bay trên trời, hóa thân, v.v., nhưng không thuộc 5 loại năng lực bên dưới), Thiên Nhãn Thông (天眼通, năng lực biết được trạng thái chuyển sanh của chúng sanh), Thiên Nhĩ Thông (天耳通, năng lực nghe được tất cả các âm thanh), Tha Tâm Thông (他心通, năng lực biết được suy nghĩ của người khác), Túc Mạng Thông (宿命通, năng lực nhớ rõ trạng thái sinh tồn trong đời quá khứ) và Lậu Tận Thông (漏盡通, năng lực biết được phiền não của bản thân đã dứt sạch). Trong đó, Thiên Nhãn Thông, Túc Mạng Thông và Lậu Tận Thông được gọi là Tam Minh (三明), cọng lại gọi chung là Tam Minh Lục Thông. Trừ Thần Túc Thông ra, 5 loại thần thông còn lại được gọi là Ngũ Thông (五通). Theo Đạo Nguyên (道元, Dōgen, 1200-1253), tổ sư sáng lập ra Tào Động Tông Nhật Bản, Lục Thần Thông nầy không phải là năng lực đặc thù, mà những gì của đời thường hằng ngày chính là thần thông. Từ đó, Lục Thông còn là tên gọi của những người chứng được 6 loại thần thông nầy như chư Phật, Bồ Tát, v.v. Như trong bài thỉnh của Lễ An Vị Phật có câu: “Nhất tâm phụng thỉnh: Tam Minh, Bát Giải, Ngũ Quả, Lục Thông, phân thân ư thử độ tha phương, thuyết pháp ư nhân gian thiên thượng, quá hiện vị lai, vô lượng Tăng Già Da (一心奉請、三明、八解、五果、六通、分身於此土他方、說法於人間天上、過現未來無量僧伽耶, Một lòng phụng thỉnh: vô lượng chư tăng trong quá khứ, hiện tại, tương lai, đang thuyết pháp trên trời, nơi cõi người, phân thân nơi quốc độ nầy hay phương khác, đã chứng Ba Minh, Tám Giải, Năm Quả, Sáu Thần Thông).” Câu “nhất niệm thù ân, Lục Thông huyền giám (一念酬恩、六通玄鑒)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là với một lòng chí thành muốn báo đáp thâm ân của tổ tiên, các đấng chứng quả Lục Thông như chư Phật, Bồ Tát đều chứng giám cho.
- Phần Thiết Niệm nầy có các lòng văn khác như: “Thiết niệm: Tiên thân lệ nhãn song lưu, sầu trường bách kết, hận cù lao chi ân nan báo; tưởng canh tường chi niệm nan vong; dục thù tiến bạt chi ân, tu trượng từ bi chi lực (竊念、先親涙眼雙流、愁膓百結、恨劬勞之恩難報、想羹牆之念難忘、欲酬薦拔之恩、須仗慈悲之力, Thiết nghĩ: người thân ngày trước, mắt lệ hai hàng, ruột sầu thăm thẳm; hận ơn bú mớm còn chưa báo, nhớ tâm chăm sóc thật khó quên; muốn cúng đền đáp ơn ấy, nên nương sức mạnh từ bi).” Hay “Thiết niệm: mộc chi hữu bổn căn, cai nha giáp tài bồi, chất bẩm ư càn khôn, nhân chi hữu thân thể phát phu, trưởng dưỡng đức ân ư tôn tổ, dục đắc an đắc ninh ư hậu duệ, tu bằng tiến bạt ư tiên linh (竊念、木之有本根、荄芽甲栽培、質稟於乾坤、人之有身体髪膚、長養德恩於尊祖、欲得安得寧於後裔、須憑薦拔於先靈, Thiết nghĩ: cây vốn có rễ thân, chồi mầm thường chăm bón; chất phú nơi càn khôn, người ắt có thân thể lông da, nuôi dưỡng đức ơn nơi tổ tông; muốn được an được ninh đàn hậu duệ, nên nương việc cúng dâng tiên linh).”
- Qua điệt miên miên (瓜瓞綿綿): còn gọi là miên miên qua điệt (綿綿瓜瓞). Qua (瓜) là loại dưa lớn, điệt (瓞) là loại dưa nhỏ; như Thi Kinh (詩經) có câu: “Đại giả viết qua, tiểu giả viết điệt (大者曰瓜、小者曰瓞, loại lớn gọi là qua, loại nhỏ là điệt).” Miên miên (綿綿) có nghĩa là dài lâu, bền vững, như nhiều trái dưa lớn, dưa nhỏ treo lủng lẳng liên tiếp trên dây leo; cho nên câu nầy dùng để chúc tụng các đời con cháu hưng thịnh, truyền thế lâu dài. Nó vốn phát xuất từ phần Đại Nhã (大雅) của Thi Kinh: “Miên miên qua điệt, dân chi sơ sinh (綿綿瓜瓞、民之初生, dài lâu con cháu, dân lúc mới sanh).” Trong Mao Truyện (毛傳) lại có câu rằng: “Miên miên bất tuyệt mạo, qua thiệu dã, điệt chước dã (綿綿不絕貌、瓜紹也、瓞瓝也, dài lâu không dứt bóng dáng; dưa lớn nối tiếp, dưa nhỏ kế thừa).”
- Chung tư chập chập (螽斯蟄蟄): chung tư (螽斯) hay tư chung (斯螽) là con giọt sành, một loài sâu nhả tơ, tương truyền một lần sinh ra 99 con sâu con; chập chập (蟄蟄) có nghĩa là đông đúc, số lượng nhiều, đầy đàn, lúc nhúc, v.v. Câu nầy thường dùng để chúc tụng hay ví cho con cháu đông đúc, đầy đàn. Nó phát xuất từ trong phần Quốc Phong (國風), Chu Nam (周南) của Thi Kinh: “Chung tư vũ sân sân hề, nghi nhĩ tử tôn chấn chấn hề; chung tư vũ hoảng hoảng hề, nghi nhĩ tử tôn thằng thằng hề; chung tư vũ ấp ấp hề, nghi nhĩ tử tôn chập chập hề(螽斯羽詵詵兮、宜爾子孫振振兮、螽斯羽薨薨兮、宜爾子孫繩繩兮、螽斯羽揖揖兮、宜爾子孫蟄蟄兮, cánh giọt sành lớp lớp chừ, nên con cháu ngươi đông đúc chừ; cánh giọt sành ào ạt chừ, nên con cháu ngươi nối tiếp chừ; cánh giọt sành lúc nhúc chừ, nên con cháu ngươi đông đảo chừ).” Hơn nữa, trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2 cũng có đoạn rằng: “Khả ái giả, tử tôn chi đa nhược chung tư chi chập chập; kham tiện giả, hậu nhân chi thạnh như qua điệt miên miên (可愛者、子孫之多若螽斯之蟄蟄、堪羨者、後人之盛如瓜瓞綿綿, Dễ thương thay, cháu con thêm nhiều như giọt sành chúng đông đúc; thật thích thay, người sau thịnh vượng như dưa trái trổ lâu dài).”
- Lân chỉ trình tường (麟趾呈祥): Lân chỉ (麟趾) là chân của con lân. Kỳ Lân là một linh vật; như trong Lễ Ký (禮記) có câu: “Lân, Phụng, Quy, Long vị chi Tứ Linh (麟、鳳、龜、龍謂之四靈, Lân, Phụng, Rùa, Rồng được gọi là bốn linh vật).” Như vậy, Kỳ Lân là linh vật đứng đầu trong Tứ Linh. Trong Mao Thi Thảo Mộc Điểu Thú Trùng Ngư Sớ (毛詩草木鳥獸蟲魚疏) của Lục Cơ (陸機, 261-303) có giải thích rằng: “Lân, quân thân, ngưu vĩ, mã túc, hoàng sắc, viên đề, nhất giác, giác đoan hữu nhục, âm trung chung lữ, hành trung quy củ, du tất trạch địa, bất lí sanh trùng, bất tiễn sanh thảo, bất quần cư, bất lữ hành, bất nhập hãm tịnh, bất duy la võng (麟、麕身、牛尾、馬足、黃色、圓蹄、一角、角端有肉、音中鐘呂、行中規矩、遊必擇地、不履生蟲、不踐生草、不群居、不侶行、不入陷阱、不罹羅網, Lân có thân con hươu, đuôi trâu, chân ngựa, màu vàng, gót chân tròn, một sừng, đầu sừng có thịt, tiếng vang như chuông, khi đi có quy củ, đi chơi có chốn, không đạp côn trùng sống, chẳng dẫm lên cỏ non, không sống thành đàn, chẳng sánh bạn cùng đi, không vào hầm nguy hiểm, chẳng sa lưới giăng).” Bên cạnh đó, trong Thi Tập (詩輯) của Nghiêm Xán (嚴粲, ?-?) có giải thích thêm như sau: “Hữu túc giả nghi đệ, duy lân chi túc, khả dĩ đệ nhi bất đệ; hữu ngạch giả nghi để, duy lân chi ngạch, khả dĩ để nhi bất để; hữu giác giả nghi xúc, duy lân chi giác, khả dĩ xúc nhi bất xúc; vương giả chí nhân tắc xuất (有足者宜踶、唯麟之足、可以踶而不踶、有額者宜抵、唯麟之額、可以抵而不抵、有角者宜觸、唯麟之角、可以觸而不觸、王者至仁則出, Loài có chân thì đi được, chỉ có chân của lân có thể đi mà không đi; loài có trán thì chống cự được, chỉ có trán của lân có thể chống cự mà không chống cự; loài có sừng thì húc được, chỉ có sừng của lân có thể húc mà không húc; bậc vương giả có đức nhân lớn tất xuất hiện.” Như vậy, Lân là một linh vật được cấu thành bởi 4 loại động vật là hươu, trâu, ngựa và cá. Loại động vật nầy vốn không tồn tại mà chỉ do người xưa tưởng tượng và sáng tạo thành. Cuộc sống của nó rất thanh cao, từ tâm rộng lớn, không hề làm tổn thương muôn vật; cho nên, đó cũng là điềm lành xuất hiện đấng minh quân. “Lân chi chỉ (麟之趾)” hay “Lân chỉ” là ví dụ để tán tụng điều chí cao chí mỹ; được tìm thấy trong Thi Kinh (詩經), phần Chu Nam (周南): “Nhiên tắc quan thư lân chỉ chi hóa, vương giả chi phong, cố hệ chi Chu Công (然則關雎麟趾之化、王者之風、故系之周公, vì vậy Quan Thư hóa thành chân lân, phong cách của vương giả, cho nên có liên quan đến Chu Công)”. Câu “Lân chỉ trình tường” có nghĩa là chân của con kỳ lân báo hiệu điềm lành. Câu nầy vốn xuất xứ từ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng nhân hữu lịnh tử viết lân chỉ trình tường (稱人有令子曰麟趾呈祥, Ca tụng người có con quý gọi là lân chỉ trình tường)”; được dùng trong dịp hôn lễ để chúc tụng sanh được quý tử nhân hậu, hay ví dụ cho con cháu hưng thạnh, đông đúc. Bên cạnh đó, còn có một số câu chúc tụng khác liên quan đến con lân như: “Lân tử phụng sồ (麟子鳳雛, Lân con phụng con)” để ví dụ cho con cháu quý tộc, “Lân can phụng tủy (麟肝鳳髓, gan lân tủy phụng)” để ví cho loại thực phẩm vô cùng hy hữu, “Phụng mao lân giác (鳳毛麟角, lông phụng sừng lân)” để xưng tán loại vật phẩm trân quý, v.v. Câu “thừa gia lân chỉ trình tường (承家麟趾呈祥)” trong lòng văn sớ trên có nghĩa là kế thừa gia đình có con cháu hiền lương, đông đúc.
- Đức trạch (德澤): ân trạch, ân huệ. Như trong bài Trường Ca Hành (長歌行) của Lạc Phủ Thi Tập (樂府詩集) có câu: “Dương xuân bố đức trạch, vạn vật sanh quang huy (陽春布德澤,萬物生光輝, Xuân tươi ban ân huệ, muôn vật sáng rực rỡ).” Hay trong Giải Lão (解老) của Hàn Phi Tử (韓非子) có đoạn rằng: “Hữu đạo chi quân, ngoại vô oán thù ư lân địch, nhi nội hữu đức trạch ư nhân dân (有道之君、外無怨讎於鄰敵、而內有德澤於人民, Vua có đạo thì ngoài không có oán thù đối với kẻ địch lân bang, mà bên trong có ban ân huệ cho nhân dân).” Ngoài ra, trong Thượng Thư Đại Truyện (尚書大傳) quyển 2 cũng có câu: “Thanh triều thăng ca giả, ca tiên nhân chi công liệt đức trạch dã (清廟升歌者、歌先人之功烈德澤也, ca nhân thời nhà Thanh là người ca tụng công lao, ân huệ của các bậc tiền nhân).” Câu “hà tiên cát triệu bồi chi đức trạch (何先吉肇培之德澤)” có nghĩa là trước hết phải làm sao chỉnh đốn, tu tâm dưỡng tánh cho tốt, làm việc công đức phước thiện để bồi đắp ân huệ của tổ tiên.
- Phụng mao tế mỹ (鳳毛濟美): lông con chim phụng ngay thẳng, xinh đẹp. Câu nầy có xuất xứ trong Ấu Học Quỳnh Lâm (幼學瓊林) quyển 2, phần Tổ Tôn Phụ Tử (祖孫父子): “Xưng hoạn hữu hiền lang, viết phụng mao tế mỹ (稱宦有賢郎、曰鳳毛濟美, chúc mừng quan có con trai hiền gọi là phụng mao tế mỹ).” Hay trong hồi thứ 34 của Quan Trường Hiện Hình Ký (官塲現形記) của Lý Bảo Gia (李寶嘉, 1867-1906) nhà Thanh có đoạn: “Nhĩ bất thính kiến thuyết tha môn thế huynh tức nhật dã yếu bảo đạo đài, chơn chánh thị phụng mao tế mỹ, khả khâm khả kính (你不聽見說他們世兄卽日也要保道台、眞正是鳳毛濟美、可欽可敬, Người chẳng nghe thấy anh em nhà kia hôm ấy cũng cần phải giữ gìn đạo nghĩa chăng ? Quả đúng là con hiền nối nghiệp cha. Thật đáng phục, đáng kính !).” Cho nên, ngày xưa câu nầy thường dùng để ví cho người cha đi làm quan, con có thể kế thừa sự nghiệp cha. Về sau, nó được dùng để chúc tụng sinh con trai nhân hậu.
- Tỉ ấm (庇廕): hay tỉ ấm (庇蔭), tỉ âm (庇陰), nghĩa là bóng râm, bóng mát, sự bảo hộ, che chở. Trong phần Văn Công Thất Niên (文公七年) của Tả Truyện (左傳) có đoạn: “Chiêu Công tương khử quần công tử. Lạc Dự viết: ‘Bất khả. Công tộc, công thất chi chi diệp dã; nhược khử chi, tắc căn bổn vô sở tỉ ấm hỉ (昭公將去羣公子。樂豫曰:‘不可。公族、公室之枝葉也、若去之、則本根無所庇陰矣, Chiêu Công định xả bỏ các công tử. Lạc Dự nói rằng: ‘Không được. Hàng công tộc là cành lá của công thất; nếu bỏ đi, tất không có nơi che chở cho gốc rễ’).” Trong bài thơ Sơ Táng Thôi Nhi Báo Vi Chi Hối Thúc (初喪崔兒報微之晦叔) của Bạch Cư Dị (白居易, 772-846) nhà Đường có câu: “Văn chương thập chật quan Tam Phẩm, thân hậu truyền thùy tỉ ấm thùy (文章十帙官三品、身後傳誰庇廕誰, Văn chương mười quyển quan Tam Phẩm, thân sau truyền ai che chở ai ?).” Hay trong phần Miễn Học (勉學) của Nhan Thị Gia Huấn (顏氏家訓) có đoạn rằng: “Phụ huynh bất khả thường y, hương quốc bất khả thường bảo, nhất đán lưu ly, vô nhân tỉ ấm, đương tự cầu chư thân nhĩ (父兄不可常依、鄉國不可常保、一旦流離、無人庇廕、當自求諸身耳, Cha anh không thể thường nương tựa, nước nhà không thể thường bảo hộ, một mai xa lìa, không người che chở, nên phải tự cầu ở bản thân mình vậy).”
- Hồng hưu (洪庥): cùng nghĩa với hồng tỉ (洪庇), nghĩa là sự che chở, ơn mưa móc, sự tốt lành do trên ban xuống. Như trong bài Tán Hoa Sơ Hiến (散花初獻) của Bảo Phủ Quân Tiếu Khoa (鮑府君醮科) do Từ Vị (徐渭, 1521-1593) nhà Minh sáng tác có câu: “Kim tiếu chủ mỗ thâm hà hồng hưu, dự mông âm chất, kính dĩ tuế thần chi cát, cẩn trần tiếu lễ chi diên (今醮主某深荷洪庥、預蒙陰隲、敬以歲辰之吉、謹陳醮禮之筵, Hôm nay chủ lễ cúng là …, vốn mang nặng ơn mưa móc, được hưởng âm phúc, kính xin lấy ngày giờ tốt, thiết dọn lễ phẩm cúng dâng).” Tại chánh điện của Dũng Tuyền Tự (湧泉寺) thuộc Phúc Châu (福州), Phúc Kiến (福建), có câu đối rằng: “Phạm vũ khánh trùng tân, y cựu từ vân chiêm bảo tướng; linh tuyền thường bất hạc, vĩnh triêm pháp vũ mộc hồng hưu (梵宇慶重新、依舊慈雲瞻寶相、靈泉常不涸、永沾法雨沐洪庥, Phạm vũ đẹp lại mới, như cũ mây từ nhìn tướng báu; suối linh thường không cạn, mãi rưới mưa pháp tắm ơn dày).” Câu “cấu tiền nhân tỉ ấm chi hồng hưu (構前人庇廕之洪庥)” ở trên có nghĩa là nối tiếp ân huệ, ơn mưa móc (sự nghiệp) thường che chở của người đi trước.
- Hào li (毫厘): mảy may, gang tấc, phần cực nhỏ. Trong Ngu Lệ Truyện (虞荔傳) của Trần Thư (陳書) quyển 19 có đoạn rằng: “Phù an nguy chi đào, họa phước chi cơ, phỉ độc thiên thời, diệc do nhân sự. ‘thất chi hào li, sai chi thiên lí’. Thị dĩ minh trí chi sĩ, cứ trọng vị nhi bất khuynh, chấp đại tiết nhi bất thất, khởi hoặc ư phù từ tai (夫安危之兆、禍福之機、匪獨天時、亦由人事。‘失之毫釐、差以千里’。是以明智之士、據重位而不傾、執大節而不失、豈惑於浮辭哉, Phàm dấu hiệu an nguy, cơ duyên họa phước, chẳng phải riêng do cơ trời, cũng do con người. ‘Mất chút mảy may, sai cả ngàn dặm.’ Cho nên người có trí tuệ sáng suốt, dẫu ở vị trí trọng đại mà không nghiêng ngữa, cầm quyền hành to lớn mà vẫn không mất mát, liệu còn nghi ngờ gì nơi ngôn từ hư ảo chăng ?).” Hay trong phần Kinh Giải (經解) của Lễ Ký (禮記) cũng có câu: “Quân tử thận thỉ, sai nhược hào li, mậu dĩ thiên lí (君子愼始、差若豪釐、繆以千里, Trước hết người quân tử phải thận trọng, sai chút mảy may, lầm cả ngàn dặm).” Câu “ân thâm vị báo ư hào li (恩深未報於毫厘)” ở trên có nghĩa là ơn sâu chưa báo đáp được chút mảy may nào.
Phần Phục Nguyện nầy cũng có các lòng văn khác như sau: “Phục nguyện: Từ bi hải khoát, chỉ đạo ngạn dĩ tiên đăng; công đức hưu quan, siêu pháp kiều nhi tiếp độ (伏願、慈悲海闊、指道岸以先登、功德休關、超法橋而接度, Lại nguyện: Từ bi biển rộng, chỉ bờ đạo để đi lên; công đức cửa quan, vượt cầu pháp mà tiếp độ)”. Hay “Phục nguyện: Từ hàng quảng tế, đức hải phổ thi; tiếp vong linh vu Giác Địa thuyên đăng, y Bát Nhã nhi Tịnh Bang trực thướng (伏願、慈航廣濟、德海普施、接亡靈于覺地遄登、依般若而淨邦直向, Lại nguyện: thuyền từ rộng độ, biển đức khắp ban; tiếp vong linh chốn Giác Địa lên mau, nương Bát Nhã mà Lạc Bang thẳng hướng).” Và “Phục nguyện: Từ bi bất xả, trọng thệ vô biên; phương phương Địa Ngục toại an, cá cá Thiên Đường tự tại (伏願、慈悲不捨、重誓無邊、方方地獄遂安、個個天堂自在, Lại nguyện: Từ bi chẳng xả, thệ nguyện vô biên; nơi nơi Địa Ngục được yên, kẻ kẻ Thiên Đường tự tại).”